Ngoại khóa về anh hùng liệt sĩ Quách Xuân Kỳ nhân kỷ niệm ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam

Chủ nhật - 03/12/2017 12:16
Nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và ngày Quốc phòng toàn dân, nhà trường, chi đoàn, liên đội và chi hội cựu chiến binh tổ chức ngoại khóa với chủ đề: Anh hùng liệt sĩ Quách Xuân Kỳ - người chiến sĩ của lực lượng vũ trang nhân dân.
Liệt sỹ Quách Xuân Kỳ
Liệt sỹ Quách Xuân Kỳ
Phần I: Thân thế và sự nghiệp anh hùng liệt sĩ Quách Xuân Kỳ
Phần II: Anh hùng liệt sĩ Quách Xuân Kỳ - người chiến sĩ của lực lượng vũ trang nhân dân.

          I/ Thân thế và sự nghiệp anh hùng liệt sĩ Quách Xuân Kỳ

Trong bài thơ “Một nhành xuân” nhà thơ Tố Hữu đã thảng thốt nghẹn ngào:
Năm hai mươi của thế kỷ hai mươi

Tôi sinh ra mà chưa được làm người

Nước đã mất, cha đã là nô lệ

Ôi, những ngày xưa mưa xứ Huế

Mưa sao buồn vậy nỗi mưa rơi

Ngẫng đầu lên chẳng thấy mặt trời

Đất lai láng nhưng là nước mắt.

Có lẽ vậy thôi…

Tôi sẽ trôi như con thuyền lay lắt

Trên dòng sông mù sương

Tôi sẽ khô như cây sậy ven đường

Đâu dám ước làm hoa thơm trái ngọt

Tôi sẽ chết lặng im.

Như con chim không bao giờ được hót

Một tiếng ca lảnh lót cho đời

Nếu chậm mùa xuân ấy em ơi!

     Cũng chính trong những năm hai mươi của thế kỷ hai mươi ấy tại làng Hoàn Lão (bây giờ là thị trấn Hoàn Lão) xã Trung Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình anh hùng Quách Xuân Kỳ được sinh ra.Quách Xuân Kỳ sinh năm 1926. Thân phụ là ông Quách Nguyên Hàm, một danh y nỗi tiếng trong vùng. Thân mẫu là bà Trần Thị Điển, Người hay thơ phú, tần tảo là măn lương thiện nuôi con. Ta như còn nghe vang vọng đâu đây trong không gian bao la vô tận lời ru hời tha thiết:
À ơi …

Con cò bay lã bay la

Đồng đang có mõi ghé qua lùng Tùng

Con đi trăm chốn lạ lùng

Sàng trong, lọc đục nơi dừng chốn qua

Biển mặn mòi, đất bao la

Chắt chiu đất, biển nở hoa cho đời.

          Biển Trung Trạch, đất Hoàn Lão đã nở hoa cho đời bằng chính sựra đời của anh hùng Quách Xuân Kỳ. Được sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng, gia đình có 5 anh em đều tham gia hoạt động cách mạng, anh Quách Xuân Kỳ sớm giác ngộ lý tưởng cộng sản. Chứng kiến cảnh quê hương bị thực dân Pháp chiếm đóng, nhân dân bị ức hiếp trăm bề, năm 1944 anh Quách Xuân Kỳ quyết định tạm dừng việc học để tham gia Việt Minh bí mật.
Vẫn biết:        

Đời cách mạng từ khi ta đã hiểu

Dấn thân vô là phải chịu tù đày

Là gươm kề tận cổ súng kề vai

Là thân sống chỉ coi còn một nửa

          Song: Chí đã quyết, anh sẵn sàng xếp bút nghiên đi theo tiếng gọi thiêng liêng của quê hương đất nước đang trong bước lầm than. Là một cán bộ Việt Minh xông xáo, quả cảm, đóng góp công lớn vào công cuộc lãnh đạo nhân dân giành chính quyền ở huyện lỵ Bố Trạch; tháng 01 năm 1945 anh Quách Xuân Kỳ được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam. Trong một cuốn sổ tay của anh có ghi đậm nét hai câu thơ của đồng chí Tố Hữu:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim.

          Năm 1946 anh Quách Xuân Kỳ cùng các đồng chí: Phan Khắc Hy, Mai Trọng Nguyên nhận nhiệm vụ chỉ huy một đội tự vệ  vừa tăng gia sản xuất,vừa xây dựng khu căn cứ ở vùng Ba lùm, Ba lòi. Từ một thư sinh anh đã làm quen với mọi công việc, bắp thịt săn lại, bàn tay chai sạn, nước da ngăm đen. Anh đã chiếm được lòng tin yêu của mọi người. Các đồng chí trong đội tự vệ này về sau đã trở thành các cán bộ cốt cán của phong trào huyện Bố Trạch khi kháng chiến bùng nổ.

          Ngày 27/3/1947, thực dân Pháp đổ bộ lên đất Quảng Bình, tung quân càn quét chiếm đóng khắp nơi. Đi đến đâu chúng khủng bố, chém giết, cướp phá. Làng quê tiêu điều, lòng dân uất hận. Làng Hoàn Lão, huyện Bố Trạch chìm trong máu lửa. Anh Quách Xuân Kỳ đã lãnh đạo nhân dân rào làng chiến đấu, thực hiện vườn không nhà trống, đào hào bí mật, kiên cường bám đất quê hương, sẳn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do, vì quê hương máu thịt.

          Tháng 7-1948 anh Quách Xuân Kỳ được bầu làm bí thư huyện ủy Bố Trạch: Thời gian này tình hình Quảng Bình nói chung và Bố Trạch nói riêng đều rất căng thẳng. Thực dân Pháp phong tỏa khắp nơi. Bọn hội tề, địa chủ ra mặt cấu kết với đế quốc để khủng bố tàn sát nhân dân. Chúng thẳng tay chém giết cán bộ chiến sĩ của ta. Bố Trạch vốn đã nghèo lại càng thêm gian khổ:
Muổi Khe Gát

Vắt Ba Rền

Sên Chà Ang

Cọp Trộ Rớ

Ai đi qua Quảng Bình

Hẵn từng quen huyện Bố

Huyện khắc khổ

Dân nghèo đất đỏ,

Dưới chân Ba Rền

Thăm thẳm một màu xanh

Chợ Bố Trạch sắn nhiều gạo ít

Nâu Ba Rèn củ tốt hơn khoai

Sông Dinh nước cạn bãi bồi

Đồng khô cát đọng mùa vơi mùa cằn

(Xuân Hoàng)

          Trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy anh Quách Xuân Kỳ được huyện ủycử về xây dựng cơ sở ở các xã Trung Trạch, Tây Trạch và Hải Trạch nơi mà quân địch khủng bố  nhiều nhất. Anh đã cùng với cán bộ lãnh đạo các xã bám đất,bám dân lăn lộn xây dựng lại phong trào, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ,hoạt động chiến tranh du kích làm cho kẻ địch ăn không ngon, ngủ không yên,trong thời gian này chúng niêm lệnh ai bắt được Quách Xuân Kỳ sẽ được thưởng hàng ngàn bạc Đông Dương. Chúng bằng mọi thủ đoạn để truy nã, để lùng bắt bằng được Quách Xuân Kỳ. Song kiên định sống giữa lòng dân và với bản lỉnh quả cảm cuả mình, với khát vọng hoàn thành sứ mệnh nhân dân giao phó Anh đã bền bỉ vượt qua mọi gian nan để tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ của nhân dân huyện Bố Trạch.
Giặc chiếm đóng cười gằn thách thức

Người dân nghèo Bố Trạch đứng lên

Củ khoai luống đất đang hiền.

Bỗng trỗi dậy Ba Rền hoen ráng đỏ.

Dãi đất hẹp đồn dăng như lưới bủa

Đường liên hương vị trí khít tiền vai

Cự Nẫm mọc lên thành một pháo đài

Rú Ngốn, rào Son mấy lần chôn xác giặc

Quách Xuân Kỳ

Phan Khắc Hy

Đặng Tất…

Một lứa trai làng đã lớn lên

Chạy súng Trung Châu, chiều ghi vào nhật ký

Đời tươi như nắng ở lòng em

…Lăn lộn trong gian nan

Dạn dày trong lửa máu

Người cán bộ thư sinh

Qua tháng năm dần rõ cuộc đời mình.

Bố Trạch nhỏ như lòng bàn tay

Giặc dập rồi xòe, giặc xòe lại nhập

Họ dấy phong trào, lửa lên giặc dập

Lửa tàn rồi họ lại đẩy bùng cao.

Cứ thế trong ba năm

Họ quần nhau với giặc

Hỷ diệt tây đốt năm lần

Cao Lao tây lùng bảy lượt

Trai Hoàn Lão chết gần hết tuốt

Gái ôm bom nằm đợi giặc đi tuần…

(Xuân Hoàng)

          Hội nghị kháng chiến Liên khu IV (26/02 đến 07/3/1949) đã tuyên dương: “Ông Quách Xuân Kỳ - chủ nhiệm Việt Minh Bố Trạch xung phong len lỏi vào vùng bị chiếm để gây lại các cơ sở đã bị tan rã và đã gây dựng phong trào Bố Trạch tiến nhanh về mọi phương diện, đoàn thể nhân dân cũng như chính quyền.Tình hình khả quan hiện tại ở Bố Trạch một phần lớn là nhờ công ông Kỳ.”

          Tháng 02 - 1949 Anh Quách Xuân Kỳ trúng cử tỉnh ủy viên Quảng Bình và được tỉnh ủy cử vào công tác tại Đồng Hới, trực tiếp làm bí thư thị ủy.Trong những ngày thử thách ấy Anh đã từng viết: “Đây là một việc khó khăn đầy nguy hiểm mà mình biết trước rằng sẽ chết như các bạn trước đây, nhưng mình vẫn thấy thú vị vì hợp với sở thích của mình…” và Anh đã nguyện “Đem hết tài trí để phủ lên Đồng Hới thân yêu màu đỏ, màu nâu, màu của kháng chiến, của dân tộc anh hùng, thay hẳn màu hồng, mùi phấn nước hoa của trụy lạc, nô lệ”…

          Đang lăn lộn với phong trào thì giữa năm 1949 trong một trận càn quét kéo dài Anh đã bị địch bắt. Ở nhà lao Đồng Hới anh đã nếm đủ mọi cực hình tra tấn của kẻ địch, chúng tra tấn, dụ dỗ bằng mọi cách song anh vẫn giữ nguyên khí tiết cách mạng. Anh tìm cách liên lạc với các đồng chí trong tù và liên lạc với bên ngoài xin tỉnh ủy cho thành lập chi bộ trong nhà tù. Được tỉnh ủy đồng ý, chi bộ nhà lao được thành lập và Anh được bầu làm bí thư. Anh trở thành nguồn cổ vũ, niềm yêu thương và nơi gửi gắm lòng tin, mơ ước và hy vọng của các chiến sĩ trong lao tù đế quốc.
Trường giao chiến không một giờ phút lặng

Rồi chiến thắng sẽ về ta, chiến thắng

Và tương lai ta sẽ chiếm về ta.

          Dù đã dùng mọi thủ đoạn nhưng giặc Pháp không thể lay chuyển được ý chí sắt đá của người chiến sĩ Quách Xuân Kỳ. Cuối cùng chúng đã quyết định đưa anh Quách Xuân Kỳ đi xử bắn. Biết tin ấy, anh thản nhiên, vẫn lãnh đạo chi bộ đấu tranh, giáo dục các đảng viên giữ vững tin thần, vẫn học tập chính trị, học tập ngoại ngữ.

          Biết ngày mình bị đưa đi xử bắn không xa nữa, Anh cử đồng chí khác thay nhiệm vụ bí thư chi bộ và đã cắn ngón tay, lấy máu viết bức huyết thư gửi ra chiến khu. Trong bức thư có đoạn:...”Khẩu hiệu trước chết một phút vẫn cười, ta vẫn nhắc, cho nên sống từng ngày chờ chết Kỳ vẫn thản nhiên như thường…”

          …Bị tra tấn nhiều rồi, giờ còn đợi thứ tra tấn cuối cùng: Chết;có nhiều ý nghĩa hay lắm Hạ…Mấy hôm trước đây Q, P, T, Đ và hai anh du kích đã hiên ngang nhận cái chết, nhìn họ ra đi, Kỳ cảm thấy một cái gì đẹp đẽ trong những ngày thiếu thốn.

          …Đến phút cuối cùng vẫn học, vẫn chiến đấu. Kỳ đã học thêm tiếng Pháp, nghiền nhiều vấn đề về các Đảng chính trị, các tôn giáo, vẫn chưa tìm cách tiến tới lãnh đạo nhà lao.

Thôi mệt quá, phải dùng nhiều máu quá rồi. H nói với các anh ở tỉnh và T và các anh chị, Kỳ có lời chào quyết thắng (ngày 09/7/1949)

          Bức huyết thư gửi ra, các đồng chí bên ngoài nhận được hai hôm thì ngày 11 tháng 7 năm 1949 giặc Pháp đưa Anh Kỳ đi hành quyết. Sáng ngày 11/7/1949 nhà lao Đồng Hới chìm đắm trong màn sương sớm, bỗng tiếng chôn rộn truyền từ căng này đến căng khác của nhà lao: “Sếp lao phải cho chúng tôi gặp mặt anh em tử tù; đã đảo bọn khủng bố giết người”. Hạ sĩ Hoa - một ngụy quân có cảm tình với cách mạng, với kháng chiến chạy đến gõ cửa xếp lao: Báo cáo sếp,tù ở các Căng đòi gặp những người sắp bị xử bắn.

          Xếp lao: Không được, đứa nào làm loạn cho phép bắn bỏ!

          Hạ sĩ Hoa: Thưa xếp, dân tộc Việt Nam, mà tôi chắc chắn dân tộc Pháp cũng vậy, nghĩa tử là nghĩa tận, tù nhân đề nghị cho họ gặp mặt, ít nhất cũng cho họ cử đại diện…

          Xếp lao: Thôi được, tôi chấp nhận, chỉ ba người, ba người thôi nhé…

          Hạ sĩ Hoa vừa báo tin được cử anh em tù đại diện gặp mặt những người bị xử bắn, quay trở lại thì chiếc Cam nhông GMC chở 20 tên lính súng tuốt lưỡi lê, mặt đằng đằng sát khí. Cánh cửa xà lim số 5 ken két mở, tên xếp lao đứng trước cửa gọi: Quách Xuân Kỳ: Ông biết hôm nay chứ…

          Quách Xuân Kỳ cười ngạo nghễ: Hôm ngay ta sẽ chết đễ dân  tộc Việt Nam ta còn. Tiếng hô từ các phòng lao vọng lại: Đả đảo quân giết người, đả đảo thực dân Pháp. Anh Ng - bí thư chi bộ Ba Rền (trong nhà lao) và hai anh thay mặt cho anh em trong tù đến gặp anh Kỳ và hai anh khác ra đi lần này. Họ đứng lặng nhìn nhau, anh Ng trao cho anh Kỳ chiếc khăn trắng mà chị em tù nhân đã thêu suốt đêm một nhánh bông hồng. Anh Quách Xuân Kỳ rưng rưng nước mắt, dùng mu bàn tay chai sạn gạt làn nước chưa kịp động trên bờ mi và nói dõng dạc: Các đồng chí ở lại, giữ vững chí khí cách mạng. tương lai tươi sáng sẽ thuộc về chúng ta,thuộc về cách mạng. Gửi lời vĩnh biệt.

          Phía nhà lao tiếng đấm cữa ầm ầm, những cánh tay thò ra cánh song sắt, tiếng thét rung chuyển: Đả đảo, đả đảo, đả đảo quân giết người, Quách Xuân Kỳ, Quách Xuân Kỳ, Quách Xuân Kỳ bất diệt…

          Cùng sáng ấy: Sáng 11/7/1949. Hoàn Lão quê hương, nơi sinh ra và rèn luyện Quách Xuân Kỳ nên người đã chứng kiến sự hy sinh bất diệt của Anh.Quân sát nhân trói Anh vào cọc. Bọn tâm lý chiến ra rả tuyên truyền trong lúc chợ Hoàn Lão còn rất đông người: Hỡi đồng bào hãy chính kiến cuộc hành hình những tên Việt Minh…Thằng chánh mật thám mặt đỏ gay, tay lăm lăm khẩu súng lục miệng gào thét: Bịt mắt nó lại. Anh Quách Xuân Kỳ bình thản: Không cần, tao không cần bịt mắt! Tao muốn nhìn thẳng vào cái chết! Hỡi bà con cô bác! Hãy vững tin ở cách mạng, vững tin vào tương lai tươi sáng. Kháng chiến nhất định sẽ thắng lợi: Quách Xuân Kỳ xin gửi bà con  lời vĩnh biệt. Súng nổ. Át cả tiếng súng, tiếng Anh hô vang: Hồ Chủ Tịch muôn năm!... Đảng cộng sản muôn năm!Đả đảo thực dân Pháp. Năm ấy đồng chí Quách Xuân Kỳ vừa tròn 23 tuổi. Tuổi thanh xuân rực lửa anh hùng. Năm 1998 đồng chí được nhà nước truy tặng dan hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được chủ tịch nước truy tăng Huân chương độc lập hạng Ba.

          II/ Anh hùng liệt sĩ Quách Xuân Kỳ - Người chiến sĩ của lực lượng vũ trang nhân dân - anh bộ đội cụ Hồ

Điểm lại một số nét đơn sơ về thân thế, sự nghiệp của anh hùng liệt sĩ Quách Xuân Kỳ như đã nêu ở phần trên, chúng ta như nghe đâu đây trong gió thoảng, trong tiếng trống trường còn vọng tiếng Anh cười. Tiếng cười trong trẻo hồn nhiên và tràn đầy khát vọng của một cậu học trò với ca lô đội lệch.Rồi xếp bút nghiêm lên đường đi kháng chiến, ta bắt gặp hình bóng anh Quách Xuân Kỳ trong hình ảnh anh vệ quốc quân
Lũ chúng ta bọn người tứ xứ

Gặp nhau từ hồi chưa biết chữ

Quen nhau từ thuở một …hai

Súng bắn chưa quen quân sự mười bài

Lòng vẫn cười vui kháng chiến…

(Tố Hữu)

Hoặc: Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Tôi với anh đôi người xa lạ

Từ phương trời, chẳng hẹn quen nhau

Súng bên súng đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

Đồng chí!              

(Chính Hữu)

          Theo dòng nhật ký viết dở của anh Quách Xuân Kỳ, ta bắt gặp ở anh chất người chiến sĩ, người lính, anh bộ đội cụ Hồ ở hai nét tính cách: tình yêu thương mênh mong và lửa căm thù cháy bỏng để hành động chiến đấu kiên cường.

          Tình yêu ở anh Quách Xuân Kỳ là tình yêu quê hương đất nước. Một tình yêu tưởng như quá lớn lao nhưng lại hết nỗi bình dị thân quen. Trong nhật ký viết ngày 03/6/1947 anh viết: Tôi về Hoàn Lão một chiều vàng đẹp đẽ. Về Hoàn Lão phải qua làng Võ Thuận, Hòa duyệt - nơi đã ghi những chiến công oanh liệt,nơi ngày trước là những dãy nhà sầm uất với những vườn cau, mít sum suê, nơi ngày nay chỉ còn những đám tro tàn với những cây cau, mít cháy vàng xác xơ,những cây cột nhà cháy đen thui phơi mình trong vườn vắng… Về Hoàn Lão, ôi!  những buổi chiều đẹp đẽ, dân làng vui vẽ trên đường sau những giờ làm việc mệt nhọc. Còn đâu những giọng hát trong trẻo của mấy  chị đi cấy khi chiều tà, cắm vội cho xong đám ruộng để về nhà, những anh nông phu chất phác cất cao giọng hò gấp tát cho xong đám ruộng…. Còn đâu văng vẳng tự không gian nhà ấm á phai bên đường tiếng hát du dương của mấy bà mẹ ru con…Hai bên đường chỉ còn những đám tro tàn lạnh ngắt, những cây cau, chuối cháy sém xác xơ, những cây cột nhà đen thui, chơ vơ, lạnh lẽo…

          Tôi đứng lặng trước cảnh hoang tàn và một mối căm hờn không bờ bến tràn ngập trong lòng tôi.

          Ta bắt gặp cảm xúc ấy, tấm lòng ấy trong người chiến sĩ của thời kỳ đánh Mỹ khi trên đường ra trận phải chính kiến cảnh sân trường bị tàn phá tan hoang và những trang giấy học trò hoen máu:

Em đến trường tay cầm cuốn vỡ

Gió thổi đời em lật từng trang mở

Trường mới như tâm hồn em lợp toàn ngói đỏ

…Chúng mang bom ngàn cân dội lên trang giấy

Mỏng như ánh trắng ngần, hiền như lá mùa xuân

Ôi! từng trang giấy

Trong lòng anh đập khẻ hôm nay

Như một bàn tay vẫy

Như một bàn tay ròng ròng máu chảy…
…Nếu như em sống lại

Anh sẽ đi một ngàn đêm

Để giành lấy cho em

Một ngày không sợ hãi

Bóng quân thù hung ác

Không che được ngọn đèn soi cho em ngồi học

Ôi, ánh đèn thúc dục như mệnh lệnh hành quân

(Chính Hữu)

          Và cảm xúc ấy cũng là cảm xúc thiêng liêng của biết bao chiến sĩ trong cuộc trường chinh giải phóng dân tộc, giành và gìn giữ độc lập tự do cho Tổ Quốc. Trong gian lao chiến đấu, trong ác liệt đạn bom, chỉ cần một phút giây yên tỉnh nơi cận kề cái chết người chiến sĩ da diết nhớ quê hương:
Quê hương ơi những chiều biển lặng

Con cá chuồn lao phóng như tên

Ánh đèn xanh đêm hè soi mực

Con sứa dập dềnh chờ nước biển lên

Ngôi tháp chàm rêu phong phủ kín

Bầy dơi nghe động bay vù

Con sư tử đá nằm lim dim ngủ

Rừng dừa xa thấp thoáng bóng sương mù

(Thu Bồn)

          Ta bắt gặp trong nhật ký anh Quách Xuân Kỳ nỗi nhớ Mẹ đồng điệu với nỗi nhớ mẹ cháy lòng của người chiến sĩ trên đường ra pháp trường:
Mẹ ơi, con vẫn ở giửa lòng đất nước

Trời nắng thiêu nghe rìu mẹ chém cây

Chiếc rìu cùn như đời mẹ cực

Đã cho con bao bát cơm đầy

(Thu Bồn)

          Ta bắt gặp trong nhật ký Quách Xuân Kỳ những trang viết , những lời tâm tình nén chặt khát khao hạnh phúc với  người yêu - Huế. Khát khaotìm kiếm hạnh phúc thật giản dị mà thiêng liêng của người chiến sĩ:
Hạnh phúc là gì? Đã bao lần ta lúng túng

Hỏi nhau hoài mà nghĩ mãi chưa ra

Cho đến ngày cất bước đi xa        

Tiền tuyến gọi hai chúng mình có mặt

Nhớ không em cái mùa mưa đói quay đói quắt

Em xanh gầy gùi sắn nặng trên lưng

Mỗi bữa chia nhau nữa bát măng rừng

Môi thấm lạnh, mái tóc mềm đẫm ướt

Giữa hai cơn đau em ngồi ghi chép

Con sông Giành gầm réo miên man

Nước lũ về, trang giấy nhỏ mưa chan

Em cứ viết, lòng dạt dào cảm xúc

Và em gọi đó là hạnh phúc

(Dương Hương Ly)

          Khát khao yêu thương, yêu thương hết mực và tình yêu thương của người chiến sĩ kết tinh cao đẹp vào tình đồng chí, đồng đội. Anh Quách Xuân Kỳ,trong nhật ký của mình đã dành cho đồng chí, đồng đọi của mình những trang viếttrân trọng và cảm xúc nhất bởi:
Đồng đội ta là hớp nước uống chung

Là vắt cơm sẻ nữa

Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa

Chia khắp anh em một mẫu tin nhà

Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp

Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết

(Chính Hữu)

          Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trường kỳ oanh liệt kếtthúc, trong “Máu và hoa” nhà thơ Tố Hữu viết.
Giặc Mỹ tưởng ngủ yên trên giường vàng và đầugối lên bom

Nghe chúng ngáy đủ run, bởi đã có dã man làmluật

Bỗng tỉnh dậy bàng hoàng, sắp tắt hoàng hôn

Người chôn chúng là anh- anh giải phóng quânmủ tai bèo chân đất

Xử phạt chúng là anh- nhân danh tình thương vàlẽ phải

Vũ khí chính là anh- tình yêu thương mênh mong

Vũ khí chính là anh- lữa căm thù cháy bỏng

          Tình yêu thương và lửa căm thù đã hun đúc cho người chiến sĩ mộtlý tưởng cao đẹp, một bản lĩnh phi thường.

Anh Quách Xuân Kỳ sẳn sàng xếp bút nghiêm để tự nguyện bước vàocuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc năm anh 18 tuổi. Độ tuổi đời phơi phớitương lai và tràn đầy lạc quan của:
Những chàng lính tre măng tơ

Nghêu ngao gõ bát hát chờ cơm sôi

          Trên đường ra trận trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Các anhbước vào cuộc chiến, chấp nhận gian khổ, hy sinh bình thản đến lạ lùng. Và tabắt gặp hình bóng của người chiến sĩ Quách Xuân Kỳ băng đồng vượt suối lăn lộnvới phong trào kháng chiến trong hình tượng của anh giải phóng quân:
Anh đi xuôi ngược tung hoành

Bước dài như gió lay thành chuyển non

Mái chèo một chiếc xuồng con

Mà sông nước dậy sóng cồn đại dương

(Tố Hữu)

          Điều kỳ diệu hơn hết là người chiến sĩ sẳn sàng chấp nhận cáichết lúc lâm nguy, chấp nhận cái chết để hóa thành bất tử: chấp nhận hy sinhcho Tổ Quốc nở hoa độc lập, kết quả tự do, cho hạnh phúc muôn đời con cháu maisau. Theo ký ức của những tấm lòng mến mộ anh Quách Xuân Kỳ, khí phách củangười chiến sĩ Quách Xuân Kỳ trong cuộc chiến là tư thế hiên ngang của anh giảiphóng quân:
Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất

Nhưng anh gượng đứnglên tỳ súng trên xác trựcthăng

Và anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu anh phun thành lửa đạn cầu vồng

Giặc thấy anh hốt hoảng xin hàng

Có thằng quỳ xuống dưới chân anh cúi đầu xintha mạng

Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm

Vẫn đàng hoàng nổ súng tiến công

Anh tên gì, hỡi anh yêu quý

Anh chẳng để lại chi trước lúc lên đường

Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thếkỷ

Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân
                                               (Lê Anh Xuân)
          Khí phách của người chiến sĩ Quách Xuân Kỳ trên đường ra pháptrường và trong giờ hành quyết là khí phách của người anh hùng trong mọi thờiđại. Ta bắt gặp trong hình tượng anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi dáng hình cao đẹp của anh Quách Xuân Kỳ.

…Chúng trói anh vào cọc mấy vòng dây

Mười họng súng, một băng đen bịt mắt

Anh hét lớn: Chính Mỹ kia là giặc

Và tay anh giật phắt mãnh băng đen

Anh muốn thiêu bằng mắt lũ đê hèn

Với cái chết anh muốn  nhìn giáp mặt

Như ngon lửa không bao giờ tắt…
 
Và khi: Lệnh hàng đầu quì xuống, một giây thôi

Anh thét lên: Hãy nhớ lấy lời tôi

Đả đảo đế quốc Mỹ

Đả đảo Nguyễn Khánh

Hồ Chí Minh muôn năm

Hồ Chí Minh muôn năm

Hồ Chí Minh muôn năm

Phút giây thiêng liêng anh gọi Bác ba lần

Súng đã nổ…mười viên đạn Mỹ

Anh gục xuống nhưng anh thẳng dậy

Anh hãy còn hô: Việt Nam muôn năm

Máu tim anh nhuộn đỏ đất anh nằm…

(Tố Hữu)

          Máu tim anh, máu người chiến sĩ, máu của những trái tim “Biết lẽphải, biết yêu thương căm giận”, “Biết đi tới và làm nên thắng trận”. Dòng máu Lạc Hồng truyền mãi qua bao thế hệ đến hôm nay.

                                      Kính thưa toàn thể các thầy cô giáo, cùng các em học sinh thânyêu.

          Với những tư liệu còn rất khiêm tốn, chúng ta cùng nhau theo dòng lịch sử để tưởng nhớ anh hùng liệt sĩ Quách Xuân Kỳ cùng bao nhiêu anh hùng liệt sĩ đã từng cống hiến, hy sinh cho độc lập tự do của Tổ Quốc, cho  sự nghiệp đổi mới của Đảng hôm nay.

Vẫn biết: “Khi ta đến đặt hoa thì đá kia thôi chảy máu”. Songthầy và trò trường THCS Quách Xuân Kỳ mãi mãi phấn đấu để tiếp thêm dòng máu người chiến sĩ cho cuộc sống hôm nay và mai sau.
Cho con hát bài ca ngợi ca đất mẹ

Hoàn Lão quê ta bền bĩ kiên cường

Cho con hát bài ca, ca ngợi mái trường

Được mang tên người anh hùng lớn lên từ đất mẹ

Quách Xuân Kỳ của thời trai trẻ

Lấy máu đào tắm mát đất quê hương

Để hôm nay con có một mái trường

Đẹp đẽ, khang trang sánh vai cùng thời đại

Quách Xuân Kỳ tên anh còn sống mãi…
Xin trân trọng cảm ơn!                          
 
                                                                           Biên tập: Trang Hiếu Đạo

Tác giả bài viết: Trang Hiếu Đạo

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn cần trở thành thành viên của nhóm để có thể bình luận bài viết này. Nhấn vào đây để đăng ký làm thành viên nhóm!
Giới thiệu

Websites are testing

Website is under development, please receive all comments and support. Thanks!

Thăm dò ý kiến

Theo bạn chức năng nào cần bổ sung cho website ?

Bài giảng xem nhiều
Thống kê lượt truy cập
  • Đang truy cập3
  • Hôm nay73
  • Tháng hiện tại422
  • Tổng lượt truy cập1,524,880
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây